TIỂU SỬ TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH PHÁP CAO

BẬC CAO TĂNG PHẠM HẠNH, TRỌN ĐỜI KHAM NHẪN PHỤNG SỰ VÀ BUÔNG XẢ VÔ NGÃ

(Thành viên Hội đồng Chứng minh GHPGVN, Nguyên Ủy viên Hội đồng Trị sự GHPGVN, Chứng minh Ban Trị sự GHPGVN TP. Đà Nẵng, Viện chủ Tổ đình Tam Bảo)

 

I. Duyên lành thuở ấu thơ và bóng mát chốn già lam

Có những bậc chân tu đi qua cuộc đời như dòng nước lặng, chẳng gợn sóng ồn ào nhưng lại âm thầm bồi đắp phù sa cho bao thế hệ. Trưởng lão Hòa thượng Thích Pháp Cao chính là một biểu tượng thanh bần, khiêm cung và son sắt như thế trong dòng chảy Phật giáo Nam tông Việt Nam.

Trưởng lão Hòa thượng Thích Pháp Cao, thế danh là Nguyễn Quít, sinh ngày 8 tháng 3 năm 1951 (giấy tờ hộ tịch ghi ngày 1 tháng 3 năm 1951) tại làng Phước Ninh, nay thuộc quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Ngài là người con trong một gia đình thuần hậu nơi dải đất miền Trung mặn mòi sương gió, thân phụ là cụ ông Nguyễn Thương và thân mẫu là cụ bà Trương Thị Sẻ (về sau quy hướng cửa thiền, xuất gia thọ giới tu nữ mang pháp danh Thiện An, song thân đều đã quá vãng). Được tắm mát trong cội phúc sinh thành và nếp nhà lương thiện, hạt mầm Bồ-đề trong ngài đã sớm đơm hoa kết trái. Đến năm 1964, khi vừa tròn 13 tuổi, ngài đã sớm thấu lẽ vô thường, gác lại mọi duyên trần để bước chân vào cửa thiền, xuất gia tu học tại chùa Tam Bảo (Đà Nẵng). Tiếng chuông chùa sớm tối cùng bóng huỳnh y thanh tịnh đã ôm ấp tâm hồn non trẻ, hun đúc nên chí nguyện xả ly ngay từ những bước chân đầu đời.

II. Tấm lòng tận tụy với Thầy Tổ, ánh sáng Bồ Đề và bước đường thọ giới

Năm 1969, khi tròn 18 tuổi đời, khao khát thâm nhập nguồn cội Phật giáo Theravāda nguyên bản đã đưa người tu sĩ trẻ vào miền Nam, nhập chúng tu học tại chùa Phật Bảo (Tam Bình, Gia Định – nay thuộc TP. Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh). Tại chốn già lam trang nghiêm này, ngài hữu duyên nương tựa và y chỉ xuất gia với Đấng Tăng bảo tôn kính: Cố Đại Trưởng lão Hòa thượng Thích Giới Nghiêm – vị danh tăng đắc pháp tối cao, Nguyên Tăng thống Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam, Phó Pháp chủ Hội đồng Chứng minh GHPGVN.

Những năm tháng tu học làm Sa-di tại chùa Phật Bảo là một bài học thân giáo vô giá về hạnh khiêm cung và tận tụy. Không quản ngại lao tác công quả, ngài lặng lẽ gánh từng thùng nước, chẻ từng bó củi, sớm khuya nấu từng ấm nước sôi phục vụ Tăng chúng tại Phật Học viện Phật Bảo. Đồng thời, ngài đem trọn tình thương trợ duyên đứng lớp làm người thầy giáo trẻ tại Trường Tư thục Bồ Đề Chùa Phật Bảo (lớp học tình thương của chùa). Giữa những tháng năm gian khó, từng con chữ quốc ngữ, từng bài học đạo đức làm người mà ngài ân cần truyền trao đã thắp sáng tương lai cho biết bao đứa trẻ nghèo khó quanh vùng.

Nhận thấy giới đức viên tròn và đạo phong trang nghiêm của người đệ tử trẻ, cũng trong năm 1969, Thầy Bổn sư đã cho ngài đăng đàn thọ Cụ túc giới (Tỳ-kheo) tại Giới đàn Chùa Phật Bảo. Kể từ đây, một vị Tỳ-kheo thanh tịnh chính thức dự vào hàng Tăng bảo vô thượng, nối dài mạng mạch Phật giáo Theravāda.

III. Nặng gánh chốn tùng lâm và đạo hạnh trọn vẹn với Mẹ hiền

Sau ngày đất nước hòa bình thống nhất, năm 1976, Hòa thượng trở về chốn tổ miền Trung. Đứng trước giai đoạn lịch sử đầy thăng trầm và thử thách, chính hạnh kham nhẫn, đức khiêm nhường và sự tĩnh lặng như đại dương của ngài đã trở thành chỗ dựa vững chắc cho chư vị Tăng trưởng tiền bối.

Các bậc cao tăng tối cao của hệ phái – từ Đức Tăng thống Thích Giới Nghiêm cho đến Hòa thượng Phó Tăng trưởng Thích Pháp Lạc – đều dành trọn niềm tin cậy tuyệt đối, phó thác việc giữ gìn mạch sống tâm linh nơi dải đất miền Trung cho ngài. Suốt hơn 4 thập kỷ (từ năm 1976 đến năm 2019), Hòa thượng đã một vai gánh vác cương vị Trụ trì và chăm lo phát triển đạo tràng tại cả 3 ngôi tự viện rường cột của Phật giáo Nam tông tại Quảng Nam – Đà Nẵng: Tổ đình Tam Bảo, Chùa Nam Quang (Hội An) và Chùa Thái Bình (Điện Bàn). Dưới sự chở che âm thầm của ngài, những mái chùa xưa qua cơn biến thiên đã phục hồi hưng thịnh, trang nghiêm tiếp đón thiện tín thập phương.

Và giữa bộn bề Phật sự trăm công nghìn việc, người ta vẫn thấy ngời sáng một tấm lòng chí hiếu của người con Phật. Khi về trụ trì Chùa Nam Quang, ngài đã ân cần đón mẹ ruột của mình là cụ bà Trương Thị Sẻ vào chùa, giúp mẹ thế phát xuất gia tu học với phẩm hạnh Tu nữ, mang pháp danh Thiện An. Dù bôn ba ngược xuôi lo toan Phật sự, Hòa thượng luôn tự tay chăm sóc, sắc từng chén thuốc, dâng từng bữa ăn, sớm hôm phụng dưỡng mẹ già tịnh tu nơi chốn già lam cho đến ngày cụ bà thanh thản xả báo an nhiên. Chữ "Hiếu" của bậc xuất trần đã được ngài thắp sáng lung linh: trên phụng sự Thầy Tổ, dưới tròn vẹn ân đức sinh thành.

Bên cạnh chốn thiền môn, ngài còn tận tâm cống hiến cho Giáo hội: gần 4 thập kỷ đảm nhiệm Phó Trưởng ban Trị sự GHPGVN TP. Đà Nẵng (1985 – 2021), Ủy viên Hội đồng Trị sự GHPGVN (2012 – 2022), và được suy tôn lên ngôi vị cao quý Thành viên Hội đồng Chứng minh Trung ương GHPGVN từ năm 2022.

IV. Hạnh nhẫn nại vượt qua giông bão và bài học buông xả vô ngã

Đường đời lẫn đường đạo của Hòa thượng Thích Pháp Cao không trải thảm hoa hồng. Đã có những thời khắc phong ba thử thách, những biến dịch thế trần bủa vây. Nhưng chưa bao giờ người ta thấy ngài biện giải, than vãn hay trách móc. Hạnh "nhẫn nại và kiệm lời" đã trở thành cốt cách tự nhiên của ngài. Ngài lấy sự im lặng của bậc thánh để dung nhiếp mọi nghịch cảnh, lấy thiền định để chuyển hóa muộn phiền, và lấy giới luật làm thành trì kiên cố. Chính sự kham nhẫn thầm lặng ấy đã giúp ngài an nhiên lèo lái con thuyền chánh pháp vượt qua mọi phong ba.

Thế nhưng, điều làm chư tôn đức tôn túc cùng thời kính phục nhất chính là tinh thần xả ly vô ngã của ngài ở tuổi xế chiều:

Từ tuổi 65, khi sức khỏe vẫn còn khang kiện, trí tuệ vô cùng minh mẫn và đạo phong đang ở đỉnh cao, Hòa thượng đã bắt đầu chu toàn sắp xếp các thủ tục pháp lý và hành chính Giáo hội; để rồi đến năm 2019, ở tuổi 68, ngài thực hiện sự phó chúc truyền thừa, hoàn tất thủ tục đề cử bổ nhiệm kế thừa trụ trì cả 3 chốn tự viện lớn cho các thế hệ đệ tử chân truyền: bổ nhiệm Thượng tọa Thích Pháp Hiếu kế thừa Trụ trì Tổ đình Tam Bảo, bổ nhiệm Thượng toạ  Thích Pháp Trung kế thừa Trụ trì Chùa Nam Quang, và bổ nhiệm Đại đức Thích Pháp Hạnh kế thừa Trụ trì Chùa Thái Bình.

Sau khi chu viên việc phó chúc truyền thừa, ngài mỉm cười thanh thản lui về ngôi vị Viện chủ và bậc Trưởng lão Chứng minh, khép lại duyên trần thế sự để nhập thất chuyên tu, an trú trong thiền định độc cư của một bậc ẩn tích tịnh tu. Phong thái thong dong, nhẹ nhàng trút bỏ mọi trọng trách khi đang ở đỉnh cao danh vị thiền gia chính là bài học thân giáo vô giá về hạnh buông xả mà ngàn lời thuyết pháp cũng không sánh bằng.

V. Dày công ươm mầm Tăng tài, mở lối cho Ni đoàn và dòng thiền Vipassanā

Gia tài lớn nhất mà Trưởng lão Hòa thượng Thích Pháp Cao để lại cho hậu thế không phải là những công trình vật chất, mà chính là con người và con đường giác ngộ:

1. Vườn ươm Tăng tài rạng danh Phật giáo:

Bằng đôi bàn tay dưỡng dục từ thuở ấu thơ, ngài đã nuôi nấng và chắp cánh cho nhiều thế hệ đệ tử trở thành những bậc rường cột của Giáo hội:

    • Cố Thượng tọa Tiến sĩ Thích Huệ Đức: Vị học tăng xuất chúng tốt nghiệp Tiến sĩ Phật học tại Ấn Độ, cùng Hòa thượng trùng tu chốn tổ Nam Quang và xiển dương thiền tập trước khi an nhiên viên tịch.
    • Thượng tọa Thích Pháp Hiếu: Thạc sĩ Phật học Pāli (Sri Lanka), Trụ trì Tổ đình Tam Bảo, Ủy viên Ban Phật giáo Quốc tế TW GHPGVN, Ủy viên BCH Trung ương Hội Hữu nghị Việt – Lào, tích cực tham gia công tác tiêu biểu nối liền nhịp cầu hữu nghị quốc tế;
    • Đại đức Thích Pháp Trung: Kế thừa Trụ trì Chùa Nam Quang (Hội An);
    • Đại đức Thích Pháp Hạnh: Kế thừa Trụ trì Chùa Thái Bình (Điện Bàn).

Chính ngài đã đích thân dắt đệ tử Pháp Hiếu ra Huế đảnh lễ Hòa thượng Hộ Nhẫn thọ giới Sa-di, rồi tạo thuận duyên gửi gắm đệ tử sang Myanmar, Sri Lanka tu học, kiến tạo nên những đóa hoa trí tuệ cho đời.

2. Khai sơn Thiền thất Sala – Nâng đỡ Ni đoàn Tu nữ:

Thấu hiểu sâu sắc tâm nguyện tu tập của giới nữ tu Nam tông, ngài đã dành trọn lòng từ bi khai sơn ngôi Thiền thất Sala và chính thức thành lập Ni đoàn Tu nữ, tạo dựng một cõi tịnh cư trang nghiêm để chư vị nữ tu an tâm thúc liễm thân tâm, trau dồi giới hạnh.

3. Thắp sáng Thiền Tứ Niệm Xứ và phong trào Xuất gia gieo duyên:

Tại Chùa Nam Quang, ngài đã dày công kiến tạo nơi đây thành trung tâm thiền Vipassanā mẫu mực của miền Trung, tổ chức đều đặn các khóa thiền miên mật từ 10 ngày đến 1 tháng cho hàng ngàn hành giả. Đặc biệt, từ những năm đầu thập niên 2000, ngài là vị giáo phẩm tiên phong mở ra phong trào "Xuất gia gieo duyên", có những khóa tu quy tụ gần 300 giới tử đắp y vàng giải thoát, gieo vào tâm thức muôn người những hạt mầm Bồ-đề vô giá.

Lời kết

Trọn một đời hơn nửa thế kỷ khoác áo cà-sa, Trưởng lão Hòa thượng Thích Pháp Cao chưa từng màng danh lợi hư ảo. Từ chú tiểu 13 tuổi quét lá sân chùa Tam Bảo, người thầy giáo áo vàng dạy chữ ở trường Bồ Đề Phật Bảo, người con hiếu thảo sớm hôm chăm sóc mẹ già nơi thiền môn, cho đến bậc Trưởng lão Thành viên Hội đồng Chứng minh tối cao của Giáo hội, ngài vẫn vẹn nguyên nếp sống thanh bần, từ ái và trầm mặc.

Ngài đã đến, đã sống, đã nhẫn nại đi qua muôn ngàn sóng gió, rồi thong dong buông bỏ tất cả như chiếc lá vàng nhẹ rơi về cội. Bóng dáng độc cư thiền định của ngài hôm nay chính là ngọn hải đăng tĩnh lặng, soi sáng con đường giải thoát và nhắc nhở hàng hậu học về một chữ "Nhẫn", một chữ "Hiếu" và một chữ "Buông" trọn vẹn giữa cõi nhân sinh.

Thích Pháp Hiếu cẩn bút